Thứ 7, Ngày 4 Tháng 4 Năm 2020
Quy định mới trong quản lý kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường
Ngày cập nhật: 11/03/2020 04:29:19 | Lượt xem: 124 | |

Kinh doanh dịch vụ karaoke và kinh doanh dịch vụ vũ trường thuộc loại hình kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng và thuộc danh mục các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. Do đó, hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke và kinh doanh dịch vụ vũ trường vừa phải tuân thủ các quy định về quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng, vừa phải tuân thủ các quy định về đảm bảo an ninh, trật tự.

Để hiểu rõ một số quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke và kinh doanh dịch vụ vũ trường, tác giả bài viết trân trọng giới thiệu đến bạn đọc một số điểm mới trong Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường, có hiệu lực thi hành từ 01/9/2019 (viết tắt là Nghị định 54).

Về định nghĩa và nguyên tắc hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke và kinh doanh dịch vụ vũ trường.

Để đảm bảo quản lý chính xác, toàn diện đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke và kinh doanh dịch vụ vũ trường, Nghị định 54 đã quy định rõ về định nghĩa hai loại hình kinh doanh này, cụ thể: Dịch vụ karaoke là dịch vụ cung cấp âm thanh, ánh sáng, nhạc, lời bài hát và hình ảnh thể hiện trên màn hình (hoặc hình thức tương tự) phục vụ cho hoạt động ca hát tại các cơ sở đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định; Dịch vụ vũ trường là dịch vụ cung cấp sàn nhảy, sân khấu, âm thanh, ánh sáng phục vụ cho hoạt động khiêu vũ, ca hát hoặc chương trình nghệ thuật tại các cơ sở đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ vũ trường theo quy định. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước có biện pháp quản lý phù hợp đối với các cơ sở kinh doanh hoạt động tương tự với kinh doanh dịch vụ karaoke và kinh doanh dịch vụ vũ trường.

Bên cạnh đó, Nghị định 54 đã quy định rõ về nguyên tắc hoạt động nhằm giúp các cơ sở hoạt động đúng mục đích, hạn chế việc lợi dụng hoạt động kinh doanh để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến sự phát triển văn hóa và công tác đảm bảo an ninh, trật tự. Theo đó, các nguyên tắc được quy định bao gồm:

- Doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh chỉ được kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường sau khi được cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh và bảo đảm các điều kiện theo quy định;

- Bảo đảm an ninh, trật tự xã hội; tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và tài sản của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường;

- Không lợi dụng hoạt động kinh doanh làm phát sinh tệ nạn xã hội, tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác.

Về điều kiện kinh doanh.

So với Nghị định số 103/2009/NĐ-CP, ngày 06/11/2009 của Chính phủ ban hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng (viết tắt là Nghị định 103), Nghị định 54 đã điều chỉnh quy định về điều kiện chủ thể kinh doanh từ “cơ sở lưu trú du lịch đã được xếp hạng sao hoặc hạng cao cấp, nhà văn hóa, trung tâm văn hóa có tư cách pháp nhân kinh doanh vũ trường” thành “doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm đảm bảo tính sát hợp với thực tế hoạt động kinh doanh, đưa những cơ sở như: “nhà văn hóa, trung tâm văn hóa” ra khỏi những cơ sở kinh doanh dịch vụ vũ trường.

Đồng thời, Nghị định 54 đã bổ sung quy định: “Bảo đảm các điều kiện về phòng, chống cháy nổ và an ninh, trật tự theo quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01 /7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiệnnhằm đảm bảo tính đồng bộ giữa quy định về hoạt động văn hóa và quy định về an ninh, trật tự trong hoạt động kinh doanh dịch vụ vũ trường và kinh doanh dịch vụ karaoke. Bổ sung quy định đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ vũ trường: “Không được đặt chốt cửa bên trong phòng vũ trường hoặc đặt thiết bị báo động (trừ các thiết bị báo cháy nổ)nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kiểm tra, xử lý đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ vũ trường.

Điều chỉnh quy định về diện tích phòng karaoke và phòng vũ trường từ “phòng khiêu vũ trong vũ trường phải có diện tích từ 80m2 trở lên”“phòng karaoke phải có diện tích sử dụng từ 20m2 trở lên” thành “phòng vũ trường phải có diện tích sử dụng từ 80 m2 trở lên, không kể công trình phụ“phòng hát phải có diện tích sử dụng từ 20 m2 trở lên, không kể công trình phụ”.

Về trách nhiệm của cơ sở kinh doanh.

Nghị định 54 đã thay đổi cách quy định về trách nhiệm của cơ sở kinh doanh từ việc chỉ quy định trách nhiệm riêng của từng loại hình kinh doanh dịch vụ karaoke và kinh doanh dịch vụ vũ trường thành quy định trách nhiệm chung áp dụng đối với hai ngành, nghề và trách nhiệm riêng áp dụng đối với từng ngành, nghề. Điều này vừa cho phép đảm bảo sự tương đồng của hai ngành, nghề, nhưng cũng vừa tạo điều kiện cho việc xác định rõ trách nhiệm của từng ngành, nghề đầu tư kinh doanh.

Bên cạnh đó, Nghị định 54 đã điều chỉnh nhiều quy định về trách nhiệm của cơ sở kinh doanh như: Yêu cầu cả cơ sở kinh doanh dịch vụ vũ trường và cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke đều phải thực hiện quy định mới trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh như: “Tuân thủ quy định tại Nghị định số 105/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về kinh doanh rượu; Tuân thủ quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá; Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm; bản quyền tác giả; hợp đồng lao động; an toàn lao động; bảo hiểm; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định của pháp luật khác có liên quan.

Điều chỉnh thời gian hoạt động của cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke và kinh doanh dịch vụ vũ trường, cụ thể:

- Đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke không được hoạt động từ 0 giờ sáng đến 08 giờ sáng.

- Đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ vũ trường không được hoạt động từ 02 giờ sáng đến 08 giờ sáng.

Hồ sơ, thủ tục cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh.

So với Nghị định 103, Nghị định 54 đã thay đổi tên gọi từ “Giấy phép kinh doanh” thành “Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh”. Bên cạnh đó, hồ sơ thủ tục cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh đã được thay đổi từ: “Đơn đề nghị cấp giấy phép kinh doanh karaoke/ vũ trường; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp/ Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh” thành “Đơn đề nghị cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh; Bản sao có chứng thực hoặc bản sao có xuất trình bản chính để đối chiếu Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự.

Theo đó, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp/ Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đã được thay thế bằng Bản sao Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự. Điều này đồng nghĩa với việc cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke và kinh doanh dịch vụ vũ trường chỉ được phép kinh doanh khi đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự và được Cơ quan Công an có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự thì mới được cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh. Do đó, đã khắc phục được tình trạng cơ sở kinh doanh chưa được Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự đã được cấp Giấy phép kinh doanh theo quy định của Nghị định 103.

Về hình thức nộp hồ sơ cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh, Nghị định 54 đã bổ sung thêm hình thức: Nộp trực tuyến (Nghị định số 103/2009/NĐ-CP chỉ xác định hai hình thức: Nộp trực tiếp hoặc nộp qua đường bưu điện).

Về thời hạn cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh đã được rút ngắn từ 07 ngày xuống 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Mặt khác, để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke và dịch vụ vũ trường, Nghị định 54 còn bổ sung quy định mới về việc cơ quan đã cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh phải có trách nhiệm gửi và lưu Giấy phép này như sau: 02 bản lưu tại cơ quan cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh; 01 bản gửi doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh được cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh; 01 bản gửi cơ quan Công an cấp huyện nơi thực hiện kinh doanh; 01 bản gửi cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh; đăng tải trên trang Thông tin điện tử của cơ quan cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh.

Quy định về việc thu hồi Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh.

Đây là quy định mới hoàn toàn so với Nghị định 103, nhằm tạo điều kiện cho công tác kiểm tra, xử lý đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ vũ trường và kinh doanh dịch vụ karaoke. Cụ thể, Điều 16, Nghị định 54 quy định các trường hợp phải thu hồi Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh bao gồm:

- Giả mạo hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh;

- Vi phạm điều kiện kinh doanh gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản;

- Được cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh nhưng không kinh doanh trong 12 tháng liên tục;

- Không tạm dừng kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh;

- Hết thời hạn tạm dừng kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh mà không khắc phục hoặc khắc phục không đầy đủ các vi phạm;

- Trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày kết thúc thời hạn tạm dừng kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh, mà tái phạm các hành vi vi phạm đã nêu tại văn bản yêu cầu tạm dừng kinh doanh.

Hoàng Vũ Thanh


  CÁC TIN ĐÃ ĐƯA
MỚI NHẤT:
Hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19
Xử lý hình sự hành vi trốn cách ly làm lây bệnh
Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền góp phần bảo đảm an toàn giao thông
Để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật giao thông cho đồng bào dân tộc thiểu số
Thực hiện dân chủ trong công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội
Hướng xử lý khi các văn bản có quy định khác nhau về cùng một vấn đề
Làm rõ tính khả thi của giám sát, phản biện cộng đồng trong Luật PPP
Thực hiện dân chủ trong công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ của lực lượng Công an nhân dân
Phê duyệt Danh sách thành viên Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu có liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013 - 2020
Quy định giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước
Tags:
 
 
 
 
Ý kiến của bạn (vui lòng gõ tiếng việt có dấu):
 
Xin vui lòng nhập họ và tên.
Xin vui lòng nhập địa chỉ email.
Nội dung Xin vui lòng nhập nội dung bình luận.
Mã xác nhận(*) ImageCaptcha ReCaptcha
  Xin vui lòng nhập mã xác nhận
Mã xác nhận không hợp lệ
 
BÌNH LUẬN BÀI VIẾT
THÔNG TIN CẢI CÁCH
Nguyễn Thành Sơn
Năm sinh:

Tội danh:
- Cố ý gây thương tích
Vũ Văn Tuyên
Năm sinh:

Tội danh:
- Cố ý gây thương tích
Võ Thành Được
Năm sinh:

Tội danh:
- Cố ý gây thương tích vào ngày 08/10/2019 tại TDP 5, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai
TRẦN VIẾT VINH
Năm sinh:

Tội danh:
- Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
HOÀNG MẠNH CƯỜNG
Năm sinh:

Tội danh:
- Không tố giác tội phạm
LÊ ANH VŨ
Năm sinh:

Tội danh:
- Cưởng đoạt tài sản
LÂM VĂN PHI
Năm sinh:

Tội danh:
- Cưởng đoạt tài sản
LÂM VĂN HOÀNG
Năm sinh:

Tội danh:
- Cưởng đoạt tài sản
TRẦN QUỐC TOÀN
Năm sinh:

Tội danh:
- Trộm cắp tài sản
Nguyễn Thị Mỹ Dung
Năm sinh: 1962

Tội danh:
- Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Thống kê truy cập
Tổng lượt truy cập: 0002008078
Đang online: 70
Đánh giá Website:
Liên kết Website
Ý kiến của bạn
Bạn thấy bố cục trang web như thế nào?
  •   Đẹp
  •   Không đẹp
  •   Bình thường
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
 
 
  GIỚI THIỆU | SƠ ĐỒ WEBSITE | TIẾNG ANH | ĐẶT LÀM TRANG CHỦ   Về đầu trang  
Bản quyền thuộc về Công an tỉnh Gia Lai
Địa chỉ: 267A Trần Phú, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Chịu trách nhiệm nội dung: Công an tỉnh Gia Lai
Giấy phép số 09/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông cấp ngày 8/1/2014